Có những nơi mình đến vì đã định trước, xem bản đồ, tính giờ, biết sẽ ăn gì, chụp gì, rồi đi tiếp. Cũng có những nơi chỉ cần bước vào là mọi dự định tự nhiên trở nên thừa.
Tôi đến chợ phiên trong cái tâm thế rất thành phố: tò mò, hơi háo hức và có phần vụng về. Người thành phố đi chợ thường đã biết mình cần mua gì. Một mớ rau, cân thịt, chai nước mắm. Vào siêu thị còn đơn giản hơn, cứ đẩy xe đi giữa những dãy hàng sáng choang, giá cả đã in sẵn, chẳng cần hỏi ai, chẳng cần nhìn ai lâu. Mọi thứ tiện đến mức đôi khi người mua và người bán không cần nhớ mặt nhau.
Còn ở đây, tôi vừa bước vào đã thấy cái sự “biết mình cần gì” ấy chẳng còn quan trọng nữa. Tháng Tám ở Lai Châu trời không cao và xanh như những tấm bưu thiếp miền núi người ta vẫn thường đăng. Mây thấp. Núi phía xa khi rõ khi mờ, như người đang ngồi bên cửa sổ mà chưa quyết định sẽ kể câu chuyện của mình hay giữ lại. Mưa vùng cao cũng lạ, lúc vừa đủ để người ta kéo cao cổ áo, lúc bất chợt rơi xuống mái bạt một trận ào ào, rồi chưa kịp trách thì đã thôi.
Chợ nằm đó, không có vẻ gì muốn gây ấn tượng với một người từ Hà Nội lên. Có lẽ chính vì thế mà tôi thấy thú vị. Tôi đi giữa những gánh rau còn nguyên hơi đất, những bó lá rừng mà nếu không hỏi thì tôi chẳng biết tên, những con gà được buộc chân nằm im trong chiếc lồng tre, những túi gạo, bắp ngô, quả bí, mớ măng. Có những thứ dưới xuôi cũng có, nhưng ở đây chúng mang một vẻ khác. Chúng chưa bị tách khỏi nơi đã sinh ra mình. Một củ gừng còn dính đất, một bó rau còn ướt sương, nhìn vào đôi khi có thể hình dung được mảnh nương nào đó ở phía sau những ngọn núi đang chìm trong mây.
Người bán phần nhiều ngồi thấp, phía sau hàng hóa của mình. Không tiếng loa quảng cáo. Không bảng “sale 50%”. Không những lời mời mọc ráo riết mà ta đã quá quen ở những chợ du lịch. Tôi dừng trước một bà cụ có vài bó rau và mấy thứ quả nhỏ xếp ngay ngắn trên tấm bạt. Tôi hỏi giá. Bà trả lời một câu ngắn. Tôi nghe không rõ, hỏi lại. Bà nhắc lại, vẫn bằng giọng ấy, không sốt ruột. Rồi bà cười. Một nụ cười móm mém mà hiền hậu. Tôi cũng cười. Cuộc mua bán của chúng tôi diễn ra đơn giản đến mức chẳng có gì đáng kể. Vậy mà khi đi được một quãng, tôi lại nhớ cái cười ấy.
Ở thành phố, một ngày ta có thể nói chuyện với hàng chục người, trả lời hàng trăm tin nhắn, tham gia một cuộc họp kéo dài hai giờ đồng hồ và cuối ngày vẫn thấy mình chưa thật sự gặp ai. Ở một chợ phiên cách nhà vài trăm cây số, đôi khi chỉ một ánh mắt giữa hai người xa lạ lại đủ làm mình nhận ra rằng cuộc sống vốn không đến nỗi phức tạp như ta vẫn cố làm cho nó phức tạp.
Tôi cứ đi. Càng đi, tôi càng không biết mình đang tìm thứ gì. Có lẽ đó mới đúng là ý nghĩa của chữ “lạc”. Lạc không nhất thiết là không biết đường về. Nhiều khi lạc chỉ là tạm thời không muốn đi theo con đường mà mình vẫn đi. Không nhìn đồng hồ. Không kiểm tra điện thoại. Không nghĩ xem lát nữa phải có mặt ở đâu. Cứ để tiếng người nói, mùi khói bếp, sắc áo của những người phụ nữ vùng cao và những âm thanh rất đời thường của chợ kéo mình đi.
Một góc nào đó có người ngồi ăn bát nóng nghi ngút khói. Tôi không nhớ chính xác đó là món gì, chỉ nhớ hơi nóng bốc lên giữa buổi sáng se lạnh khiến người ta thấy đói. Cái đói ở vùng cao cũng khác. Nó không giống cảm giác nhìn đồng hồ thấy đã mười hai giờ nên phải ăn trưa. Nó đến từ mùi thức ăn, từ hơi lạnh, từ việc nhìn người bên cạnh cúi xuống một chiếc bát nóng mà ăn một cách chăm chú, như thể trong đời này vào lúc ấy chẳng còn việc gì đáng làm hơn.
Tôi chợt nghĩ chúng ta đã học quá nhiều cách để sống nhanh, nhưng hình như chẳng mấy ai dạy mình cách sống chậm lại mà không cảm thấy có lỗi.
Ở San Thàng, chẳng ai dạy tôi điều ấy. Chợ chỉ họp theo cách của chợ. Người ta mang thứ mình có đến, gặp người cần nó, nói với nhau vài câu, trao cho nhau món hàng rồi trở về. Những cuộc đời từ các bản làng quanh đó trong một buổi sáng tình cờ tụ lại. Đến một giờ nào đó, chợ sẽ vãn. Người sẽ đi. Những tấm bạt được gấp lại. Gùi lại lên lưng. Xe lại nổ máy. Những con đường từ đây tỏa về các bản.
Ngày mai, nơi này có thể lại bình thường như chưa từng có cuộc gặp gỡ nào. Có lẽ mọi phiên chợ đều mang một chút buồn như thế. Nó sinh ra để đông rồi lại vắng. Giống những cuộc gặp trong đời người. Ta có thể gặp một người giữa hàng triệu người, ngồi cạnh nhau trên một chuyến xe, cùng trú dưới một mái hiên khi trời mưa, hỏi nhau một câu rất bình thường rồi sau đó không bao giờ gặp lại. Nhưng không phải vì không gặp lại mà cuộc gặp ấy trở nên vô nghĩa. Có những người chỉ đi ngang đời ta vài phút vẫn để lại một ký ức lâu hơn những người đã từng ở bên ta nhiều năm.
Chợ phiên cũng vậy.
Tôi đến như một người ngoài cuộc. Tôi nhìn mọi thứ bằng đôi mắt của một kẻ sống quá lâu giữa bê tông, thang máy, đèn đỏ và những cuộc hẹn luôn được đặt chính xác tới từng phút. Tôi biết mình có thể đã nhìn miền núi bằng một chút lãng mạn của người thành phố. Người ở đây chắc chẳng thấy bó rau kia đẹp như tôi thấy. Với họ, đó là công sức của một buổi lên nương, là tiền mua gạo, tiền cho con đi học, là một phần rất thực của đời sống. Sự lãng mạn đôi khi cũng là một đặc quyền của người chỉ ghé qua.
Nghĩ vậy nên tôi thôi chụp ảnh nhiều. Có những thứ nếu cứ giơ điện thoại lên, ta sẽ mang về được một tấm hình nhưng lại để rơi mất cảm giác. Tôi muốn nhớ San Thàng bằng trí nhớ của mình: một buổi sáng tháng Tám se lạnh, núi đứng phía xa im lặng, có những người đàn bà ngồi bên sản vật mang từ nhà đến, tiếng nói chuyện không quá ồn ào, và tôi đi giữa tất cả những điều ấy như một người vô tình được bước vào một nhịp sống khác.
Không có chuyện gì đặc biệt xảy ra. Tôi không gặp một nhân vật kỳ lạ. Không có một câu chuyện đủ kịch tính để kể lại trong những cuộc vui. Tôi cũng chẳng mua được món đồ nào đáng gọi là kỷ niệm.
Nhưng nhiều năm nữa, biết đâu tôi vẫn nhớ.
Con người ta kỳ lạ lắm. Những ngày quan trọng được ghi đầy trong lịch đôi khi trôi qua rất nhanh. Còn một buổi sáng chẳng có tên, chẳng có kế hoạch, chỉ vì một mùi khói, một khuôn mặt, một cơn mưa thoáng qua mà nằm lại rất lâu.
Lúc ra khỏi chợ, tôi ngoái nhìn một lần. Chợ vẫn đông. Người vẫn vào, người vẫn ra. Không ai biết vừa có một người thành phố đứng đó và nghĩ ngợi hơi nhiều về một phiên chợ vốn chẳng cần được nghĩ ngợi đến thế.
Tôi bật cười rồi đi. Sau lưng tôi là San Thàng của một sáng tháng Tám. Trước mặt lại là những con đường, công việc, điện thoại, lịch hẹn và cuộc sống quen thuộc đang chờ.
Chỉ có điều, dường như tôi đã để quên ở chợ một chút vội vàng của mình. Mà thôi. Có những thứ lạc mất, hóa ra chẳng cần tìm lại.
8.26

Bình luận về bài viết này